118a 118bĐề tài tốt nghiệp Quá trình sản xuất xi măng
LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc sống ngày nay đang phát triển rất cao, vì lẽ đó nó yêu cầu những tiến bộ xã hội phải đi theo . Điều này đã làm cho con người không ngừng tìm tòi và phát minh ra nhiều loại máy móc cần thiết để phục vụ con người trong mọi lĩnh vực.
Ngành công nghiệp xây dựng cũng vì lí do đó mà phát triển theo. Công nghiệp sản xuất ximăng cũng vì vậy mà có cơ hội phát triển.Ở nước ta đã có nhiều tiến bộ rõ rệt , với sự ra đời của các nhà máy xi măng có công nghệ tiên tiến và hiện đại khắp cả nước : Xi măng Hoàng Thạch, xi măng Bỉm Sơn ,xi măng Hoàng Mai ,xi măng Hải Vân,xi măng Cosevco,xi măng Hà Tiên…Vì vậy công việc vận hành , sửa chữa , phục hồi và bảo dưỡng các máy ,các bộ phận ,các chi tiết trong dây chuyền sản xuất xi măng là hết sức quan trọng và cần thiết.
Đối với bản thân em, đợt này làm đồ án tốt nghiệp nên cũng có cơ hội tìm hiểu về máy sản xuất xi măng, nhờ đó em hiểu được rõ hơn về nguyên lý hoạt động cũng như những tính năng hữu ích của máy.Do vậy, sau này đi vào thực tế sẽ ích bỡ ngỡ hơn, nếu phải gặp những loại máy này.
Trong khoảng thời gian làm đề tài được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, em đã tiếp thu được những kiến thức và kinh nghiệm mà thầy truyền đạt.
Tuy nhiên với kiến thức và khả năng có hạn nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót em kính mong quý thầy cô thông cảm và chỉ bảo cho em nhiều hơn .Em xin chân thành cảm ơn tới quý thầy cô đã hết sức tận tình chỉ bảo cho em để em hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này.

Đà Nẵng,ngày10 tháng 05 năm 2006.
PHẦN I:
LÝ THUYẾT CƠ SỞ
CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XI MĂNG

I.1 > Qúa trình sản xuất xi măng :
I.1.1 > Giới thiệu chung về xi măng:
Xi măng là một chất kết dính thủy lực.
Chất kết dính là những loại khoáng khi nghiền mịn, đem trộn với nước, trở nên dẻo và sau một thời gian thì kết lại thành một khối rắn chắc. Chất kết dính đầu tiên được dùng : vôi, thạch cao, đất sét. Nhưng các chất này chỉ có thể dùng được trên cạn, không thể dùng được cho các công trình ở dưới nước.
Mãi đến thế kỷ 18, người ta mới tìm được vôi thủy và sản xuất ra xi măng La Mã. Đến năm 1824 ở nước Anh, nước Nga, người ta nghiên cứu ra một loại chất kết dính mới gọi là Portland Cement (xi măng pooclăng), nó có khả năng chịu nước tốt và có tính chất giống loại đá ở vùng Portland thuộc đảo Ai Nhĩ Lan (Anh).
Dựa trên cơ sở xi măng pooclăng, người ta đã nghiên cứu và tìm thêm nhiều loại xi măng có tính chất khác nhau: Cement Portland Pouseland, xi măng xỉ, xi măng chịu axit…
Xi măng pooclăng là chất kết dính thủy lực thông dụng nhất nhờ các đặc tính kỹ thuật ưu việt của nó. Chất kết dính này được sản xuất bằng cách nghiền mịn clinker có cho thêm một lượng thạch cao, phụ gia theo một tỷ lệ nhất định. Khi được nhào trộn với nước, xi măng pooclăng cho ta một loại hồ (vữa) dẻo có khả năng liên kết các vật liệu khác thành một kết cấu rắn chắc hay để chế tạo các cấu kiện đúc sẵn. Loại vật liệu này bắt đầu đông kết (thủy hóa) sau một vài giờ và rắn chắc theo thời gian, đạt được cường độ chịu nén rất cao, có thể trên 1000 [daN/cm ] đối với những loại xi măng đặc biệt.
* Clinker : là nguyên liệu chính để sản xuất xi măng. Nhìn từ bên ngoài clinker có màu đen xám không lẫn màu vàng, thành phần hạt chiếm tỷ lệ lớn, cỡ hạt từ 030[mm] trong đó cỡ hạt từ 5 20[mm] chiếm hơn 80%, lượng bột chiếm 15%. Clinker không bị mốc, không nhiễm mặn, nhiễm kiềm do nước mang vào.
* Clinker chứa đựng trong kho phải khô ráo, để đúng nơi qui định, không để lẫn với các vật liệu khác.Thành phần hóa học của xi măng pooclăng hiển thị qua hàm lượng các ôxyt có trong clinker (theo % khối lượng) ghi ở bảng sau:
Bảng I.1.Thành phần hóa học của xi măng pooclăng.
Tên ôxyt % Tên ôxyt %
CaO 6067 MgO 45
SiO2 1924 SO3 0,31,0
Al2O3 47 Na2O+K2O 0,41,0
Fe2O3 26 P2O5 0,10,3
Để thu được clinker có thành phần hóa học trên, hỗn hợp vật liệu cần: 7580%CaCO , 2025% SiO2 và một lượng Al2O3, Fe2O3, … và nung luyện ở nhiệt độ 14001600C (rồi vê viên).
Thành phần khoáng của xi măng pooclăng , các khoáng chất của clinker không phải là các hợp chất nguyên chất mà là hỗn hợp có chứa một phần nhỏ các cấu tử của các khoáng khác ở dạng hợp chất tinh thể hỗn hợp . Điều này liên quan đến tạp chất hóa học còn lại của clinker là các chất không thể tạo ra được các pha độc lập . Bởi vậy để phân biệt rõ các hợp chất nguyên chất với các khoáng chất của clinker , năm1897 Tiornhebom đã đặt cho các khoáng chất chính của clinker bao gồm: Alit(C3S); Belit(C2S); Aluminat(C3A); Alumoferit(C4AF).
Bảng I.2.Thành phần khoáng của xi măng pooclăng.
Khoáng Công thức Ký hiệu rút gọn
Silicát 3 canxi(alit) 3CaOSiO2 C S
Siliccát 2 canxi(belit) CaOSiO2 C2S
Aluminát 3 canxi CaO.Al2O3 C A
Nhômferit 1 canxi 4CaO.Al2O3.Fe2O3
C AF
Nhôm feritcanxi(pha tinh thể hổn hợp) 2CaO.Al2O3.Fe2O2
C2(A,F)
Vôi tự do CaO –
Ôxit Manhê tự do(periclazơ) MgO –
Aluminát chứa kiềm (K,Na)2O.8CaO.3Al3O
(K,Na) C2A2
Sunphát của kim loại kiềm (K,Na)2 SO4 –
Sunphát canxi CaSO4 –
Khi làm nguội clinker đột ngột, một phần Celit tồn tạo ở trạng thái thủy tinh. Khoảng trống giữa các khoáng Alit và Belit, bên cạnh Celit chứa các phần còn lại của pha lỏng không thể kết tinh. Lượng các khoáng tồn tại dưới dạng thủy tinh tùy thuộc vào thành phần của hỗn hợp, nhiệt độ tạo vùng clinker và tốc độ làm nguội. Hàm lượng các khoáng xi măng pooclăng thông thường (theo % khối lượng):
Bảng I.3.Hàm lượng các khoáng xi măng pooclăng thường.
Tên khoáng % Tên khoáng %
C3S 37,5 60 C3A 75
C2S 1537,5 Thể thuỷ tinh 415
C4AF 1018 CaO tự do 12

* Thạch cao: có độ ẩm W < 5%. Để điều chỉnh thời gian đông kết của xi măng.
* Phụ gia: đá Bazan, không nhiễm kiềm do nước biển, có màu xám đen, xanh đen, xám xanh, không lẫn màu vàng, giòn, dễ đập vỡ, độ ẩm < 6%. Phụ gia giúp cải thiện tính chất của xi măng: màu sắc, tính chống giãn nỡ, chống co ngót v.v…

Mác xi măng được biểu thị bằng cường độ uốn gãy mẫu có kích thước (40 x40 x160 mm) được đúc bằng vữa xi măng – cát tỷ lệ 1:3 (theo khối lượng) và được bảo dưỡng 28 ngày đêm trong nước ở nhiệt độ 27 ±2C. Mẫu thử uốn xong thì đem nén hai nửa mẫu vừa thử (TCVN 4032:1985 – ISO 6016 : 1995) [1].
Hiện nay ở nước ta, xi măng pooclăng thường chia làm 3 mác : PC30, PC40, PC50. Xi măng pooclăng hỗn hợp (PCB) được chia làm 2 mác: PCB30 và PCB40. Đơn vị đo cường độ là [N/mm2] (trước đây là [daN/cm2]). Yêu cầu chất lượng của xi măng được ghi ở bảng sau :
Bảng I.4.Yêu cầu chất lượng của xi măng pooclăng Việt Nam.

TT Tên chỉ tiêu PCB (TCVN6260-1997) PC (TCVN 2682-1999)
PCB30 PCB40 PC30 PC40 PC50
1 Cường độ nén, N/mm2, 
– 3 ngày + 45ph
– 28 ngày ±8h (nếu PCB ±2h)

14
30

18
40
16
30

21
40

31
50
2 Thời gian ninh kết, ph :
– Bắt đầu không sớm hơn
– Kết thúc không muộn hơn

45

600

45

600

45

375

45

375

45

375
3 Độ nghiền mịn:
– Phần trên sàng, 8 mm, %, không lớn hơn
– Bề mặt riêng (phương pháp Blaine), cm2/g, không nhỏ hơn

12

2700

12

2700

15

2700

15

2700

12

2800
4 Độ ổn định thể tích theo phương pháp Lơ Statơlie, mm, không nhỏ hơn

10

10

10

10

10
5 Hàm lượng SO3, %, không lớn hơn 3,5 3,5 3,5 3,5 3,5
6 Hàm lượng MgO, %, không lớn hơn – – 5 5 5
7 Hàm lượng cặn không tan, %, không lớn hơn – – 1,5 1,5 1,5
8 Hàm lượng mất khi nung, %, không lớn hơn 1,5 1,5 1,5 1,5 1,5

I.1.2 >.Phân loại xi măng : người ta có thể phân loại xi măng theo nhiều tiêu chí khác nhau. Phân loại theo thành phần khoáng có :
I.1.2.1>.Xi măng thông thường :
– Xi măng pooclăng thường.
– Xi măng pooclăng đặc biệt :
+ Xi măng có cường độ ban đầu cao (C¬ S : 50÷60%, C A : 8÷14%).
+ Xi măng cho bê tông mặt đường (C A<8%).
+ Xi măng chịu băng giá.
+ Xi măng cho bê tông khối lớn (C A<8%, C A F>15%).

Mô tả chung: Gồm các file như ảnh trên bao gồm tất cả các file 3D, xuất bản vẽ ra PDF, CAD+ nguyên lý hoạt động+ Sơ đồ nguyên công, đồ gá + THuyết minh …
Giá: 400.000vnđ – Mã số: doantotnghiep.me_TKM000118
Tải đồ án

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*