81a 81b

GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. GIỚI THIỆU SẢN PHẨM VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG
1.1.1. Qui trình công nghệ sản xuất xi măng
a. Qui trình kiểm tra đầu vào :
Clinker :
Clinker phải được kiểm tra đầy đủ các chỉ tiêu cơ, lý – hóa.
Thạch cao :
Mỗi lô thạch cao phải được kiểm tra đầy đủ các chỉ tiêu CaSO4.2H2O, SO3.
Thạch cao được đập hàm chứa ở vị trí qui định, không được lẫn lộn, trước khi được vận chuyển bằng xe ô tô vào phễu thu và được bằng tải gàu tải vào silô chứa.
Phu gia :
Hiện đang sử dụng đá bazan Quảng Ngãi, và có thể một tỷ lệ nhỏ các loại khác trong quá trình sản xuất xi măng PCB 30; PCB 40 để cải thiện tính chất, thị hiếu khách hàng mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Các thông số kiểm tra bao gồm : độ ẩm, độ hoạt tính (nếu là phụ gia hoạt tính).
Sau khi đập xong bazan, hoặc hỗn hợp phụ gia theo tỷ lệ qui định được để ở vị trí qui định, chống ẩm và chống lẫn lộn, nhầm lẫn.
b. Qui trình vận chuyển và chứa vật liệu :
Clinker :
Clinker được kiểm tra và đổ vào phễu thu, băng tải vận chuyển đổ vào gàu tải H = 60m và đổ vào silô chứa qua cân băng. Bộ chỉ thị báo mức đầy silô sẽ hoạt động để ngắt dừng nạp clinker vào silô (ngắt ở các băng tải gàu tải).
Thạch cao, phụ gia :
Sau khi kiểm tra đầy đủ thông số theo qui định và gia công đảm bảo cỡ hạt, phụ gia hay thạch cao đổ vào phễu rót. Tại đáy phễu một băng tải đai L = 16m chuyển đến gàu tải đổ vào silô thông qua hệ thống van chuyển đổi trên nóc silô.
Silô có sức chứa 750 tấn/cái.
Lượng chứa trong silô được kiểm soát thông qua cân băng đai trong quá trình vận chuyển, báo về phòng Điều khiển trung tâm và cơ cấu báo mức trên nóc silô sẽ báo dừng khi đầy.
Van chuyển đổi hoạt động cho đến khi kết thúc một chu kỳ nạp hết một loại thạch cao hoặc phụ gia. Thạch cao chỉ được đổ vào silô thạch cao và phụ gia chỉ được đổ vào silô phụ gia, không có bất cứ nhầm lẫn nào.
c. Qui trình tháo nguyên liệu nạp vào máy nghiền :
Một băng tải chính L = l02 m được bố trí dưới đáy các silô, chạy theo trục chính từ silô clinker qua 2 silô phụ gia thạch cao, để chuyển hỗn hợp nguyên liệu đổ vào máy nghiền. Trên dòng băng tải chính có 2 băng tải định lượng thạch cao và phụ gia. Lượng clinker, thạch cao và phụ gia được định lượng theo yêu cầu kỹ thuật từ phòng Điều khiển trung tâm.
Dòng hỗn hợp nguyên liệu gồm clinker, thạch cao đối với xi măng PC40. Hoặc clinker, thạch cao, phụ gia đối với xi măng PCB 30; PCB 40 theo băng tải 102m vào máy nghiền 2 ngăn một cách đều đặn, liên tục và tỷ lệ các thành phần đã được xác định theo yêu cầu của đơn phối liệu.
Tỷ lệ thạch cao được điều chỉnh theo SO3 trong mẫu xi măng kiểm tra và theo hướng dẫn công nghệ về phối liệu.
Đối với xi măng PCB 30; PCB 40, tỷ lệ phụ gia được điều chỉnh theo chỉ tiêu cường độ chịu nén của clinker và kết quả kiểm tra R1 , R3 trong mẫu xi măng.
d. Qui trình nghiền clinker thành xi măng :
Hỗn hợp nguyên liệu clinker, thạch cao, phụ gia hoặc không có phụ gia đối với PC40 được nghiền trong máy nghiền bi hai ngăn chu kỳ kín có phân ly hiệu suất cao SEPOL, có hệ thống phun nước dạng sương ở hai đầu nhằm giảm nhiệt và hạn chế việc mất nước của thạch cao, ảnh hưởng đến chất lượng xi măng. Nhiệt độ xi măng ra khỏi máy nghiền nếu t0 1050C thì cho hệ thống phun nước dạng sương làm việc.
Xi măng ra khỏi máy nghiền qua máng khí động để vào gàu tải và sau đó đỗ vào máng khí động. Trước khi đổ vào phân ly, tại máng khí động có bộ phận tách vật rắn kim loại để đưa ra ngoài. Phía trên đầu ra máy nghiền là ống hút làm thông thoáng máy nối đến lọc bụi túi. Trên đường đến lọc bụi, những cỡ hạt xi măng lớn sẽ được phân ly tĩnh tách ra đưa vào gàu tải đổ vào SEPOL thực hiện chức năng phân ly. Những cỡ hạt bé hơn sẽ được lọc bụi làm việc và lượng xi măng thu được từ lọc bụi nhập vào máng khí động đưa qua thìết bị làm nguội.
Phân ly SEPOL thực hiện chức năng tách hạt, những xyclon lắng tụ xi măng đảm bảo yêu cầu về độ mịn sẽ được máng khí động chuyển qua làm nguội.Những thành phần không đảm bảo yêu cầu độ mịn phân ly sẽ trả về đầu máy nghiền để nghiền lại. Việc điều chỉnh độ mịn (phần còn lại trên sàng 0.08 hoặc theo Blaine) dựa vào việc điều chỉnh của phân ly) và chế độ bi đạn.
e. Qui trình làm nguội và chứa xi măng :
Xi măng sau khi vào phân ly được kiểm soát nhiệt độ, nếu t0 800C sẽ đi đến thiết bị AEROPOL để bơm xi măng đẩy lên silô; nếu t0 > 800C sẽ đưa vào tháp làm nguội bằng nước để đảm bảo nhiệt độ xi măng vào silô 800C. Việc điều chỉnh góc mở van căn cứ vào t0 xi măng vào AEROPOL.
AEROPOL là thiết bị vận chuyển xi măng theo phương thẳng đứng có chiều cao gần 65m. Dòng xi măng có dạng bụi trước khi vào silô phải qua phân ly kiểu màng, xi măng được tách ra khỏi hỗn hợp bụi và chuyển đến 2 silô bằng máng khí động, van chuyển đổi sẽ làm việc để chứa xi măng ở silô theo yêu cầu. Khí sau khi phân ly còn mang theo một lượng xi măng sẽ vào silô trước khi qua lọc bụi để thải khí sạch ra ngoài. Bộ chỉ thị báo mức chứa đẩy từng silô sẽ hoạt động cắt dừng nạp xi măng vào silô (ngắt ở các thiết bị trước nó). Tùy theo chủng loại sản phẩm là PCB 30; PCB 40 hay PC 40. Nhà máy quyết định cho chứa ở silô theo qui định và kiểm soát.
Trạm khí nén trung tâm có nhiệm vụ cung cấp khí nén sạch, phục vụ cho bơm xi măng vào silô, làm sạch túi lọc, cấp cho máng khí động, làm thông và xả xi măng, cấp khí nén cho đóng bao, …
Trạm cung cấp nước phục vụ cho nước làm mát thiết bị, làm lạnh xi măng, phun sương vào máy nghiền, phục vụ cho thí nghiệm, sinh hoạt, …
f. Đóng bao :
Hệ thống khí nén lắp đặt dưới đáy và thành nghiêng của mỗi silô giúp cho xi măng đồng nhất cục bộ và tạo cho xi măng có độ chảy ở trạng thái giả lỏng qua 2 cửa tháo đến van lật. Tùy theo yêu cầu chủng loại sản phẩm là PCB 30, PCB 40 hay PC40 của khách hàng, sẽ quyết định tháo và đóng bao để đảm bảo yêu cầu chất lượng theo qui định. Nhãn vỏ bao phải phù hợp theo chủng loại sản phẩm. Từ 2 cửa tháo này, xi măng được tháo ra để xuất rời hay đưa qua máy đóng bao bằng hệ thống máng khí động Fluidor vào 2 gầu tải. Trước khi vào két chứa máy đóng bao, xi măng qua sàng rung để loại bỏ các cỡ hạt lớn, moocso.
Xi măng được đóng bao trên máy do hãng Haver Boecker 6 vòi có năng suất 110/h, cơ cấu điều chỉnh khối lượng tự động theo mức yêu cầu là 50 kg có dung sai 0,5 kg.
1.1.2. Giới thiệu về sản phẩm xi măng
a. Lịch sử phát triển :
Chất dính là loại khoáng mà khi nghiền mịn và trộn với nước thì sẽ trở nên dẻo, nếu để lâu một thời gian thì nó sẽ đông kết lại thành một khối rắn chắc. Khi khoa học chưa phát triển thì loại chất dính kết đầu tiên được dùng là vôi, đất sét, thạch cao nhưng các chất dính kết này chỉ để xây dựng những công trình trên cạn vì khi tiếp xúc với nước các chất này rã ra, không còn tác dụng dính kết hơn nữa độ bền của các chất dính kết này không cao. Đến năm 1824 ở Anh và Nga người ta đã nghiên cứu được một loại chất dính mới gọi là ciment Porland nó có khả năng chịu nước tốt và có tính chất giống như loại đá vùng Porland thuộc đảo Ái Nhỉ Lan của Anh.
b. Các phương pháp sản xuất xi măng :
Có 2 phương pháp sản xuất xi măng là phương pháp ướt và phương pháp khô về cơ bản thì hai phương pháp này chỉ khác nhau về phần phôi liệu còn về giai đoạn nung và nghiền mịn thì giống nhau.
Phương pháp ướt : Nguyên liệu được trộn chung với nước tạo thành thể lỏng dạng huyền phù, nguyên liệu cho vào lo nung ở dạng lỏng, lò nung phải đạt nhiệt độ 14500c khi ra lò trở thành clinker
Phương pháp khô : Nguyên liệu được nghiền riêng và sau đó được trộn lẫn với nhau sau đó cho nước vào để đóng bánh hoặc vê viên sẽ trở thành clinker. Trong hai phương pháp trên thì phương pháp ướt tiên tiến hơn nhưng quá trình nung luyện tốn nhiều năng lượng hơn.
c. Quá trình sản xuất xi măng :
Quá trình sản xuất xi măng có 3 giai đoạn :
+ Giai đoạn 1 : Chuẩn bị hỗn hợp phôi liệu
+ Giai đoạn 2 : Nung phôi liệu để trở thành clinker
+ Giai đoạn 3 : Cho thêm phụ gia để tạo thành xi măng.
d. Nguyên lý chung để sản xuất clinker :
Dưới tác dụng của nhiệt độ cao các ôxýt trong nguyên liệu ban đầu phân hủy và tác dụng với nhau để tạo thành những hợp chất mới gọi là khoáng silicat, các khoáng đó ở nhiệt độ cao (14500C). Khi được làm nguội thì sẽ trở thành những hạt gọi là clinker và được đem nghiền với các chất phụ gia, thạch cao sẽ tạo thành xi măng clinker gồm các ôxýt chính sau : CaO, SiO2, Fe2O3, Al2O3 tổng hàm lượng của chúng chiếm từ (9597).
Thành phần hóa học : CaO (6366%) ; Al2O3 (48%)
SiO2 (2124%) ; Fe2O3 (24%)
Ngoài ra còn có các ôxít khác như : MgO, SO3, K2O, Na2O, TiO2 , Cr2O3, P2O5… Chúng chiếm tỉ lệ không lớn nhưng ít nhiều có ảnh hưởng đến xi măng. Kích thước phôi liệu từ (1040mm).
a) Các loại đá vôi :
Các loại đá vôi thường dùng để sản xuất clinker là : đá vôi, đá hoa cương, đá cẩm thạch… Nói chung các loại đá vôi đều có thể dùng để sản xuất xi măng.
Thành phần hóa học của đá vôi chủ yếu là CaO, CaCO3, tạp chất đất sét, ngoài ra còn có MgO, Fe2O3, Al2O3 …
* Muốn có clinker tốt phải đảm bảo yêu cầu sau: CaO = (4964%) ; Mg < 3%
b) Đất sét :
Là loại nhôm thạch trầm tích có nhiều trong thiên nhiên thành phần chủ yếu là: SiO2, Fe2O3, Al2O3 . Đất sét để sản xuất clinker cần có thành phần hóa học tính theo thành phần % như sau :
SiO2 = (5064%); Fe2O3 = (57%); Al2O3 = (1519%)
CaO = (13%) ; SO3 < 1% ; MgO = (0,52%)
c) Các nguyên liệu khác :
+ Bùn nhê-phê-lin: Còn gọi là bùn trắng, là phế liệu của ngành công nghiệp sản xuất nhôm có thành phần hóa học như sau :
CaO = (5058%) ; Al2O3 =(48%)
SiO2 = (2530%) ; Al2O3 =(35%)

Mô tả chung: Gồm các file như ảnh trên bao gồm tất cả các file 3D, xuất bản vẽ ra PDF, CAD+ nguyên lý hoạt động+ Sơ đồ nguyên công, đồ gá + THuyết minh …
Giá: 400.000vnđ – Mã số: doantotnghiep.me_TKM000081
Tải đồ án

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*