55a 55bthiết kế máy nghiền má hay máy đập hàm

LỜI NÓI ĐẦU.

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay. Cũng như mọi ngành công nghiệp khác, công nghiệp vật liệu xây dựng là ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc doanh. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, ưu tiên hàng đầu là xây dựng cơ sở hạ tầng.
Để đáp ứng nhiệm vụ cấp bách nói trên, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nhiều nhà máy cung cấp vật liệu xây dựng hiện đại như nhà máy ximăng Bỉm Sơn, Hà Tiên… Nhưng bên cạnh đó các địa phương cũng tận dụng nguyên liệu sẵn có để tự đáp ứng nhu cầu. Trong các vật liệu xây dựng, đá chiếm vai trò quan trọng. Người ta sử dụng đá để đúc bêtông, lót đường bộ, xe lửa, làm ximăng…Ở khu vực miền trung có nhiều nơi khai thác đá như Phước Tường, Lăng Cô, đèo Hải Vân và các nhà máy ximăng Hải Vân, Cosevco, Văn Xá…Do đó đòi hỏi phải có máy đập đá. Để thực hiện mục tiêu đó, đồ án tốt nghiệp khóa 1997-2002, khoa Cơ Khí, trường Đại Học Kỹ Thuật Đại Học Đà Nẵng và thầy Trần Hữu Huế đã cho em nhận đề tài thiết kế máy nghiền má hay máy đập hàm.
Sau thời gian hơn 3 tháng làm đề tài tốt nghiệp nay em đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có được kết quả này chính là nhờ sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa Cơ khí, đặc biệt là thầy Trần Hữu Huế đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài tốt nghiệp và sự nỗ lực của bản thân, tìm hiểu học hỏi thực tế và các bạn cùng khóa.
Đang còn là sinh viên, nên kiến thức kinh nghiệm thực tế, chuyên môn hạn hẹp, vốn lý thuyết chuyên ngành còn nhiều thiếu sót, tài liệu tham khảo thiếu thốn, do đó trong đề tài không tránh khỏi những sai sót, kính mong sự chỉ bảo của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn.

Đà Nẵng, ngày,tháng, năm
Sinh viên thiết kế:

Nguyễn Đức Bình.

CHƯƠNG 1.
VẬT LIỆU ĐÁ TRONG CÔNG NGHIỆP
SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG.

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG:
Trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đá là vật liệu quan trọng được sử dụng trong ngành xây dựng cơ bản. Chúng được dùng để làm chất độn trong bêtông, xây mố cầu đập nước, rải mặt đường, làm đường ôtô đường sắt. Đá cũng là nguyên liệu cơ bản để sản xuất ximăng, vôi và các chất kết dính khác. Ngoài ra nó còn được dùng để trang trí.
1.2. PHÂN LOẠI VẬT LIỆU ĐÁ THEO THÀNH PHẦN ĐỊA CHẤT:
Chia làm 3 loại:
1.2.1. Đá mắcma:
1.2.1.1. Đặc tính chung:
Đá mắc ma là do khối silicát nóng chảy từ lòng trái đất xâm nhập lên phần trên của vỏ hoặc phun ra ngoài mặt đất nguội đi tạo thành. Do vị trí và điều kiện nguội của khối mắcma nên cấu tạo và tính chất của chúng cũng khác nhau, phân ra làm hai loại: xâm nhập và phún xuất.
a) Đá xâm nhập:
Ở sâu hơn trong vỏ trái đất, chịu áp lực lớn hơn của lớp bên trên và nguội dần đi mà thành. Do đó nó có cấu trúc tinh thể lớn, đá đặc chất, cường độ cao, ít hút nước.
b) Đá phún xuất:
Được tạo ra do mắc ma phun lên trên mặt đất, do nguội nhanh trong điều kiện nhiệt độ và áp suất thấp, các khoáng vật không kịp kết tinh hoặc chỉ kết tinh được một bộ phận. Với kích thước tinh thể bé chưa hoàn chỉnh, còn đại bộ phận tồn tại ở dạng vô định hình. Mặt khác, các chất khí và hơi nước không kịp thoát ra để lại nhiều ổ rỗng làm cho đá nhẹ, có loại nổi trên mặt nước.
1.2.1.2. Các loại đá mắcma thường dùng trong công nghiệp vật liệu xây dựng:
a) Đá măcma xâm nhập:
– Granit (đá hoa cương): là loại đá axít có ở nhiều nơi, chủ yếu do thạch anh, fenspat và một ít mica tạo thành, có khi còn có cả amfilon và Piroxen. Granít có màu tro nhạt, hồng nhạt hoặc vàng, phần lớn có kết tinh hạt lớn. Granít rất đặc chắc, khối lượng thể tích từ 2600 2700 Kg/cm3, cường độ nén rất lớn (1200 2500 Kg/cm2).
– Sienit: là loại đá trung tính, thành phần khoáng vật chủ yếu là oetteela, plagiela axít, các khoáng vật màu xẫm (ampilon, Piroxen Liatit), một ít mica, một ít thạch anh, có khối lượng riêng (2,7 2,9) g/cm3.
– Khối lượng thể tích: (2400 2800) Kg/m3, cường độ chịu nén: (1500 2000) Kg/cm2.
– Dionit: là loại đá trung tính, thành phần chủ yếu là palagiocla trung tính chiếm khoảng 3/4, Hacllenaugit, Hiolit, Amilon và một ít mica pyroxen. Dionít thường có màu xám, xám nhẹ có xen các vết xẫm và trắng, khối lượng thể tích (2900 3300) Kg/m3. Cường độ chịu nén (2000 3500) Kg/cm2.
– Gabrô: là loại đá bazơ, thành phần gồm có plogioda bazơ (khoảng 50%) và các khoáng vật màu xẫm như pyroxen, amfilon, oliren. Gabrô có màu tro xẫm hoặc từ lục thẫm đến đen. Khối lượng thể tích (2900 3300) Kg/m3. Cường độ chịu nén (2000 3500) Kg/cm2.
b) Đá mắcma phún xuất:
– Diaba: có thành phần tương tự như Gabro, là loại đá trung tính, có kết cấu hạt nhỏ, hạt vừa xen lẫn với kết cấu toàn tinh, thành phần khoáng vật gồm có: fenspat, pyroxen, màu tro xẫm hoặc lục nhạt. Cường độ chịu nén (3000 4000) Kg/cm2.
– Đá bazan: là loại đá bazơ có thành phần khoáng vật giống với đá Gabro. Chúng có cấu trúc bán tính hoặc cấu trúc paocphia. Đá bazan là loại đá nặng nhất trong các loại đá mắcma, khối lượng thể tích (2900 3500) Kg/m3. Cường độ chịu nén (1000 5000) Kg/cm2 (có loại cường độ đến 8000 Kg/cm2) vật cứng giòn khả năng chống phong hóa cao.
– Andesit: là loại đá trung tính, khối lượng thể tích (2200 2700) Kg/m3, cường độ chịu nén (1200 2400) Kg/cm2.
1.2.2. Đá trầm tích:
1.2.2.1. Đặc tính chung:
Đá trầm tích được tạo thành trong điều kiện nhiệt động học của vỏ trái đất thay đổi. Các loại đất đá khác nhau do sự tác động của các yếu tố nhiệt độ, nước và các tác dụng hóa học mà bị phong hóa, vỡ vụn, sau đó chúng được gió và nước cuốn đi rồi lắng đọng thành từng lớp. Dưới áp lực và trãi qua các thời kỳ địa chất chúng được gắn kết lại bằng các chất keo kết thiên nhiên tạo thành đá trầm tích.
Đá trầm tích không đặc chắc bằng đá mắcma do các chất keo kết dính thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại. Vì thế cường độ của nó thấp hơn, độ hút nước cao hơn nên nó được dùng rất phổ biến.
1.2.2.2. Các loại đá trầm tích thường dùng:
– Đá vôi: thành phần khoáng vật chủ yếu của đá vôi là canxit. Đá tinh khiết rất hiếm mà thường bị lẩn các tạp chất như: silie, đất sét, betum…Nên nó có màu sắc từ trắng đến tro, xanh nhạt, vàng và màu đen, nó có độ cứng 3. Khối lượng thể tích: (1700 2600) kg/m3. Cường độ chịu nén: (1700 2600) kg/cm2, được dùng phổ biến để dùng sản xuất xi măng.
– Sa thạch: phần lớn do cát thạch anh keo kết bằng chất keo thiên nhiên (đất sét, oxit silic, oxit sắt, canxi cacbonat) mà thành. Trong sa thạch có khi còn chứa penspat, mica và các hạt khoáng vật khác. Cường độ của sa thạch cao nhất khoảng 3000 kg/cm2.
1.2.3. Đá biến chất:
1.2.3.1. Đặc tính chung:
Đá biến chất được hình thành từ sự biến tính của đá macma, đá trầm tích, thậm chí cả từ đá biến chất trẻ, do sự tác động của áp lực, áp suất cao và các chất có hoạt tính hóa học.
1.2.3.2. Các loại đá biến chất thường được dùng trong công nghiệp vật liệu xây dựng:
– Đá gơnai (đá phiến ma): là do đá granit tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của áp lực cao.
– Đá hoa: là loại đá biến chất tiếp xúc hai khu vực do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành, cường độ chịu nén 1200 kg/cm2.
– Đá quăczit: là do sa thạch tái kết tinh tạo thành. Đá có màu trắng đỏ hay tím, chịu phân hóa tốt, cường độ chịu nén khá cao khoảng 4000 kg/cm2, độ cứng lớn; đá quăczit được sử dụng để xây trụ cầu, chế tạo tấm ốp.
– Diệp thạch sét: có cấu tạo dạng phiến, tạo thành từ sự biến chất của đất sét dưới áp lực cao; đá màu xám sẫm, dùng làm vật liệu lợp rất đẹp.
1.3. Phân loại đá theo tính và công dụng:
1.3.1. Dựa vào cường độ nén:
– Đá nhẹ: khối lượng thể tích nhỏ hơn 1800 kg/cm2, được phân ra làm 6 loại: 5, 10, 15, 75, 100 và 150 kg/cm2.
– Đá nặng: khối lượng thể tích > 1800 kg/cm3, được phân ra làm 7 loại: 100, 150, 200, 400, 600, 800 và 1000 kg/cm2.
1.3.2. Dựa vào hệ số bền:
Vật liệu đá thiên nhiên được phân ra 4 cấp: < 0,6; 0,6/0,75; 0,75/0,9 và > 0,9.
1.3.3. Dựa vào yêu cầu sử dụng và mức độ gia công:
Vật liệu đá thiên nhiên được chia ra các loại sau:
– Đá hộc: được nhận bằng phương pháp nổ mìn, không gia công gọt đẽo, viên đá đạt yêu cầu chiều dày 10 25 cm, rộng 42 lần bề dày; mặt đá không được lồi lõm quá 3 cm. Đá hộc được dùng để xây móng, tường nhà, tường chắn, móng cầu, trụ cầu, v.v…
– Đá đẽo thô: là loại đá hộc được gia công thô để cho mặt ngoài tương đối bằng phẳng (độ lồi lõm khoảng 10 mm), vuông vắn, bề mặt phải có cạnh dài nhỏ nhất là 15 cm và không có góc nhỏ hơn 600.
– Đá đẽo kỹ: là loại đá hộc được gia công kỹ (tinh) mặt ngoài, chiều dài và dày của đá nhỏ nhất của đá là 15 và 30 cm, chiều rộng của lớp mặt nhô ra ngoài ít nhất phải gấp đôi chiều dày và không nhỏ hơn 25 cm; dùng để xây tường, vòm cuốn.
– Đá kiểng: được chọn lọc rất cẩn thận và phải là loại đá tốt, rất thuần chất, tuyệt đối không nứt nẻ, gân hà, phân hóa, đạt thẩm mỹ cao.
– Đá phiến: được dùng để ốp trang trí, hoặc ốp cho các công trình đặc biệt khác.

 

CHƯƠNG 7.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG.

7.1. CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT:
– Kích thước cửa nạp [mm]: 200 x 300
– Kích thước đường đá cửa nạp lớn nhất [mm]: 180
– Chiều rộng cửa xả [mm]: 55 x 75
– Năng suất máy [m3]: 4,85 6,768
– Số vòng quay trục lệch tâm [v/ph]: 300
– Động cơ điện: dạng AO II 2-51-4
+ Số vòng quay [v/ph]: 1460
+ Công suất [KW]: 7,5
+ Điện áp [V]: 220 380
– Trọng lượng các khâu chủ yếu [kg]:
+ Trọng lượng thân: 410
+ Trọng lượng má động: 120
+ Trọng lượng thanh đẩy: 18
+ Trọng lượng trục lệch tâm: 65
+ Trọng lượng bánh đà: 110
+ Trọng lượng bánh đai: 110
+ Trọng lượng chung ( không có động cơ ): 1250
7.2. LẮP RÁP, VẬN HÀNH MÁY:
7.2.1. Lắp ráp máy:
7.2.1.1. Trình tự lắp ráp:
Máy đập hàm khi làm việc gây chấn động mạnh cho nên phải lắp nó trên bệ. Giá máy có độ cứng vững lớn đặt trên một bệ bêtông nặng gấp (5 8) lần trọng lượng bản thân máy. Máy không được đặt gần cột nhà hoặc trần nhà. Trình tự lắp đặt máy có thể tiến hành như sau:
– Đặt bàn máy lên bệ kèm theo cả bulông bệ.
– Kiểm tra thân máy theo các đường trục, chiều cao và các mặt ngang. Để kiểm tra độ lệch của máy so với mặt phẳng nằm ngang ta dùng thước có chia vạch. Khi hiệu chỉnh thân máy nên dựa vào lỗ tiện của hốc ổ trục lệch tâm. Theo các số liệu tổ chức lắp ráp và kinh nghiệm vận hành tích lũy có thể cho phép độ lệch của thân là 0,1 mm trên 1 mét nằm ngang. Sau khi hiệu chỉnh xong dùng các miếng chèn xiết lần lượt các bulông. Nếu dùng giá máy hoặc đổ dung dịch kết dính vào lỗ bulông nếu dùng bệ bêtông. Khi dung dịch kết dính đã nóng rắn rồi thì bắt đầu xiết chặt các bulông bệ.
– Lắp má động: để được nhanh chóng và hợp lý người ta tiến hành lắp ráp má động vào trục lệch tâm ở bệ riêng cùng với tấm lót, bạc tiếp xúc với tâm chống.
– Lắp ráp cụm chi tiết trục lệch tâm, má động lên gối đỡ trục. Người ta kiểm tra khớp động của trục và ổ dựa trên lớp sơn.
– Lắp ráp cơ cấu điều chỉnh.
– Lắp ráp tấm chống: để lắp ráp tấm chống dễ dàng người ta kéo má động về phía thành trước thân máy (má cố định) và kẹp chặt lại. Sau khi lắp đặt tấm chống vào vị trí người ta thả lỏng má động và lắp ráp cơ cấu bảo toàn khớp.
– Trong khi lắp ráp và lắp xong toàn bộ phải nhét đầy mỡ vào các nơi cần bôi trơn.
7.2.1.2. Chạy thử máy:
Sau khi hiệu chỉnh toàn máy, đóng máy vào mạng điện cho chạy thử không tải trong thời gian (3 5) phút rồi mới cho đá vào nghiền. Nếu là máy mới lắp lần đầu tiên cho máy chạy thử không tải khoảng (7 8) giờ. Chú ý lượng tiêu hao điện năng trong hành trình không tải không được dao động thấy rõ.
7.2.1.3. Vận hành máy:
Để nâng cao năng suất máy đồng thời bảo đảm an toàn trong khi làm việc người công nhân cần có những hiểu biết cơ bản sau đây:
– Nắm được các kiến thức cơ bản của quá trình đập nghiền, co tính của vật liệu nạp vào máy.
– Hiểu được tính năng của thiết bị, phát hiện được những sai hỏng hay những tiếng động khác thường để kịp thời báo cáo tổ sửa chữa nhằm tránh gây những hư hỏng thiết bị lớn.
– Ngoài ra người công nhân cần phải được học về an toàn bảo hộ lao động.
Khi làm việc người công nhân không nên đứng gần các chi tiết đang chuyển động của máy, ăn mặc gọn gàng để tránh vướng mắc. Không đứng gần buồng nạp liệu đá có thể bắn vào người. Giữ gìn ngăn nắp và gọn gàng khu làm việc.
Những quy định khi vận hành máy:
1. Cấp liệu đều đặn vào máy nghiền nhờ có máy sàng sơ bộ. Khi nạp liệu phải đều khắp toàn máy. Tránh để rơi vật cứng vào máy như bánh răng, cuốc, xẻng…
2. Trước khi nạp liệu phải cho máy chạy không tải 1 2 phút. Lúc ngừng máy phải ngừng bộ phận cấp liệu và chờ cho máy đập hết nguyên liệu trong buồng nghiền.
3. Thực hiện kiểm tra thường xuyên dầu mỡ, lực căng đai, sự siết chặt của các bu lông trên máy.
7.3. Sửa chữa máy.
7.3.1. Khái niệm chung:
Do sự chuyển động tương hổ của các chi tiết khi máy làm việc hoặc giữa những chi tiết và vật liệu gia công trên máy mà phát sinh ra quá trình mài mòn chi tiết dẫn đến sự phá hủy các bề mặt làm việc của chi tiết máy, thay đổi cấu trúc lớp kim loại tiếp xúc với bề mặt ma sát, hình dáng, kích thước và thay đổi cả độ chính xác tính chất của bề mặt làm việc. Những phần chi tiết bị mài mòn nhiều nhất như cổ trục, gối đỡ trục, bánh đai và các tấm lót trong buồng nghiền, ống lót ở các khớp động giữa má động với thanh đẩy, giữa thân đẩy với thân.

Mô tả chung: Gồm các file như ảnh trên bao gồm tất cả các file 3D, xuất bản vẽ ra PDF, CAD+ nguyên lý hoạt động+ Sơ đồ nguyên công, đồ gá + THuyết minh …
Giá: 450.000vnđ – Mã số: doantotnghiep.me_TKM000055
Tải đồ án

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*