105a 105b

THIẾT KẾ MÁY NHẤN CON LƯƠN BẢO VỆ TÀU THUỶ BẰNG THỦY LỰC

NHIỆM VỤ THIẾT KẾ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên:   Nguyễn Huy Hoàng

Lớp:        01C1A                Khoá:     2001¸2006

Ngành:   Cơ khí chế tạo máy

  1. Tên đề tài:

THIẾT KẾ MÁY NHẤN CON LƯƠN BẢO VỆ TÀU THUỶ BẰNG THỦY LỰC

  1. Các số liệu ban đầu:

+ Chiều dày ống: (4 ÷ 6) mm

+ Chiều dài: 6000mm

+ Vật liệu :CT38

  1. Nội dung phần thuyết minh

Chương 1: Giới thiệu con lươn bảo vệ tàu thuỷ.

Chương 2: Cơ sở tính toán .

Chương 3: Tính toán động lực học cho máy.

Chương 4: Tính toán sức bền và động lực học

Chương 5: Vận hành và bảo dưỡng máy.

Mục lục

  1. Các bản vẽ (ghi rõ các loại bản vẽ và kích thước bản vẽ).

+ Bản vẽ phương án chọn máy (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ sơ đồ động                  (A0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ toàn máy                     (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ mặt cắt A-A, B-B        (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ mặt cắt C-C                 (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ thân hai bên                 (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ thân giữa                      (A­0 : 1189 x 841)

+ Bản vẽ các bộ phận thuỷ lực    (A0 : 1189 x 841)

Đồ án tốt nghiệp TK mây nhấn con lươn bảo vệ tău thuỷ bằng thuỷ lực

SVTH: Nguyễn Huy Hoàng GVHD: TS. Đinh Minh Diệm
Lời nói đầu
Đặc biệt nước ta có diện tích mặt nước cũng khá lớn, việc khai thác hải sản và nhu cầu di lại bằng đường biển là hết sức cần thiết. Cũng vì thế thì ngành đóng và sửa chữa tàu thủy cũng là một trong các ngành quan trọng chủ yếu của đất nước. Công nghiệp ngày càng phát triển, việc cơ khí hóa đối với các ngành công nghiệp là rất cần thiết để tăng tính hiệu quả chế tạo và sửa chữa. Đồng thời kết hợp với các phương pháp truyền thống để phù hợp với hoàn cảnh địa lý và tài chính của nước ta. Hệ thống triền đà là một trong những phương pháp cũ để đưa tàu lên và xuống nước nhằm phục vụ cho việc đóng mới và sửa chữa tàu thủy.
Qua thời gian được đi thực tế trong đợt thực tập tốt nghiệp cũng như thời gian được giao làm để tài làm tốt nghiệp dưới sự hướng dẩn nhiệt tình của thầy Đinh Minh Diệm, các thầy cô trong khoa cơ khí cùng các anh chị phòng kỷ thuật ở nhà máy đóng tàu Dà nẵng em đã hoàn thành đề tài: thiết kế hệ thống triền đà phục vụ sửa chữa tàu thủy đúng thời hạn.
Mặc dù vậy, đây là lần đầu em được tiếp xúc với thực tế và thiết kế toàn bộ hệ thống sản xuất nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vậy kính mong các thầy ý kiến để được hoàn thiện hơn và em xin chân thành cảm ơn thầy Đinh Minh Diệm, các thầy cô trong khoa cơ khí cùng các anh chị phòng kỹ thuật tại nhà máy đóng tàu Đà nẵng đã giúp đỡ em hoàn thành đợt làm đề tài tốt nghiệp này.

Đà nẵng, ngày tháng năm 2006
Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Huy Hoàng
Chương 1
giới thiệu tàu và con lươn bảo vệ tàu
1.1 Gíới thiệu tàu thủy
Tuỳ theo loại và công dụng của các tàu dân dụng các tàu dân dụng đuợc chia ra thành những loại cơ bản sau đây: Vận tải, khai thác hải sản, công nghiệp, phục vụ, phụ trợ và văn hóa đời sống.
Thành phần chính của một đội tàu biển là các tàu vận tải dùng để chuyên chở các loại hàng và hành khách. Tàu vận tải bao gồm: tàu chở hàng và tàu chở khách, tàu chở hàng – tàu chở hành khách và các tàu đặc biệt
Tàu hàng được chia thành hai loại chính: tàu chở hàng khô và tàu chở hàng lỏng.
Tàu chở hàng khô bao gồm tàu chở vạn năng để chở các loại hàng hóa và tàu chuyên dùng để chở các loại hàng nhất định.
Tàu chở hàng khô chuyên dùng gồm: tàu ướp lạnh để chở các hàng mau hỏng (cá, thịt, hoa quả…) được trang bị các thiết bị ướp lạnh và các khoang hàng cách nhiệt; tàu contâynốc kích thước nhất định, nhằm rút ngắn thời gian đậu ơ bến khi bốc xếp; các tàu trâylơ chở các hàng đựng trong trâylơ, có bánh xe để đẩy trâylơ đó từ bến vào khoang tàu và ngược lại; tàu vận chuyển các hàng khối và hàng rời (quặng, than, bôxit, xi măng, muối, đường…); tàu chở gỗ chuyên dùng để chở gỗ tròn và gỗ xẻ, lúc có thể có thể chở hạt; tàu chở ôtô; tàu chở gia súc.
Tàu chở hàng lỏng bao gồm: tàu chở dầu và các sản phẩm của dầu mỏ; tàu chở khí nén; tàu chở hóá chất (axít, lưu huỳnh nóng chảy…); tàu chở các loại hàng lỏng khác (nước, rượu…).
Trong thời gian gần đây, trong các loại tàu chở hàng còn xuất hiện một số loại nữa đó là loại tàu hổn hợp tức là tàu chở một vài loại hàng nhất định, rất thích hợp khi gặp một số mặt hàng khác có thể chở được để tránh tình trạng tàu phải chạy không tải hoặc tàu chạy có dằn, loại tàu này gồm: tàu chở dầu và quặng, tàu contâynơ (tàu để vận chuyển contâynơ và trâylơ); tàu chở bông và gỗ…
Tàu chở khách là những loại tàu chở trên 12 hành khách. Còn về công dụng những tàu này được chi ra: tàu phục vụ cho nhưng chuyến thường xuyên, tàu du lịch và tàu để vận chuyển một khối đông người (ví dụ: quân đội, dân di cư).
Tàu du lịch có tốc độ vừa phải và kích thước hơi nhỏ. Trên tàu có những điều kiện thuận tiện cho khách du lịch từ 2 tuần tới 2 tháng.
Trên các tàu vượt đại dương hiện đại tất cả các hàng khách thường ở trong các phòng từ 1 – 2 người, có tất cả các tiện nghi kể cả việc điều hoà nhiệt độ. Để nghỉ ngơi và giải trí có các phòng khách, phòng chơi và phòng thể thao… Tất cả những tàu lớn đều có hệ thống giảm lắc.
Tàu chở hàng – hành khách là những loại tàu ngoài chở hành khách ra còn chở thêm nhiều hàng (chủ yếu là hàng bách hóa) và những tàu chở hàng chở thêm trên 12 hành khách.
Trong những tàu vận tải chuyên dùng có phà đường sắt và phà chở ôtô, các tàu lai…
Những tàu hải sản dùng để khai thác, chế biến và vận chuyển cá, cá voi, động vật biển, cua và các động vật biển. Về công dụng của tàu này được chia thành các nhóm sau: các tàu khai thác (traule, đriphte, xâyne, tàu đánh cá voi, tàu bắt cua, tàu bắt cá ngừ, tàu bắt các súc vật ở biển, xuồng đánh cá, tàu vớt lưới…); các tàu khai thác – chế biến (các nhà máy cá kiểu traule loại lớn có ướp đông, các nhà máy đóng cá hộp xácđin kiểu traule loại đánh và chế biến các hải sản…); các tàu chế biến (nhà máy nổi chế biến cá trích, cá voi, cua, cá ngừ, nhà máy nổi đóng cá hộp, làm bột cá tàu ướp muối cá, tàu ướp đông cá…); cá tàu phụ trợ cho công nghiệp hải sản (tàu thu nhập và vận chuyển, tàu chở cá tươi, tàu tìm kiếm, tàu khảo sát khoa học hải sản, tàu bốc cá…)
Các tàu công nghiệp dùng để thực hiện các công việc xây dựng, đặt cáp, chăm sóc nông nghiệp, công tác lâm nghiệp, đặc biệt cũng như dùng để phục vụ cho việc khai thác tàu ngoài biển.
Những tàu này gồm: tàu năng lượng (trạm điện nổi, tàu chở máy biến thế, máy nén khí, thủy lực…); các tàu xây dựng (tàu xây dựng cảng, tàu cuốc…); các tàu của công nghiệp dầu mỏ (tàu khoan giếng, tàu đặt ống và chế biến dầu mỏ); tàu bảo đảm thông tin kỷ thuật (tàu đặt dây cáp, trạm vô tuyến điện nổi); các tàu phục vụ nông nghiệp (tàu tưới nước, tàu vét bùn và phục vụ cho việc bón đất); các tàu lâm nghiệp (tàu thả bè gỗ, tàu vớt gỗ, tàu xếp gỗ, tàu ghép gỗ thành bè, tàu kéo gỗ…).
Những tàu phục vụ gồm các tàu hành chính(tàu kiểm tra của chính phủ, tàu kiểm tra cá, tàu bưu điện, tàu công an…); các tàu tuần tra và tàu thuế quan tàu khảo cứu khoa học (tàu nghiên cứu hải dương học, tàu đo từ trường, tàu khảo sát vật lí địa cầu, tàu quan sát vệ tinh nhân tạo…); tàu bảo vệ (tàu bảo vệ tài nguyên, tàu nhà tù, tàu cứu hỏa…); tàu để thực tập (tàu trường).
Những tàu phụ trợ gồm: tàu phục vụ công cộng (tàu cơ sở, tàu cứu vớt tàu, tàu phá băng…); các tàu kỹ thuật (ụ nổi, xưởng nổi, trạm thí nghiệm nổi…); các tàu tiếp tế (tàu kho nổi, tàu cấp xăng…); các tàu cẩu hàng (cần cẩu nổi, thiết bị hút hạt nổi…); các tàu phục vụ công cộng (cá tàu lai ở cảng, xuồng kéo, tàu vớt rác…); xuồng tuần tiển, các xuồng con.
Những tàu văn hóa đời – sống gồm các tàu thể thao (tàu buồm, tàu mái chèo, tàu có động cơ, tàu trọng tài); các tàu y tế (phòng khám nổi, trạm thiếu nhi nổi, trạm cách ly nổi); các tàu điều dưỡng (nhà nghĩ nổi, trạm thiếu nhi nổi…); các tàu văn hoá và đời sống (tàu triển lãm, tàu câu lạc bộ, tàu tuyên truyền, tàu trường học, rạp chiếu bống nổi…); các tàu sinh hoạt (nhà tập thể nổi, bệnh viện nổi, quán nổi, cữa hàng nổi…).
Ngoài việc phân loại theo công dụng, tất cả các tàu công dụng còn được xếp theo một số dâu hiệu chủ yếu.
Những dấu hiệu đó (không phụ thuộc vào loại và công dụng của tàu) là: vùng bơi lội, loại máy chính, loại bộ dẩn tiến, phương pháp chuyển động trong nước, vật liệu làm thân tàu, kiểu kiến trúc kết cấu, số lượng đường trục (trên các tàu chân vịt).
Theo vùng bơi lội các tàu được chia ra thành tàu biển – đi biển xa và gần, tàu ven biển – các tàu hoạt động ở cảng và cữa sông lớn, các tàu nội địa (gồm tàu sông và tàu hồ); các tàu hỗn hợp biển và sông (tàu pha sông biển).
Theo loại máy chính các tàu được chia thành tàu chạy bằng động cơ đốt trong, tàu chạy bằng tuabin hơi, tàu chạy bằng tuabin khí, tàu chạy bằng động cơ hơi nước, tàu chạy bằng động cơ điện (tàu hạy bằng động cơ điện – tuabin hoặc động cơ điện điêzen tùy theo loại động cơ kéo máy phát điện); và cuối cùng là tàu nguyên tử mà nguồn điện năng là lò phản ứng hạt nhân.
Các loại thuyền bơi hèo chuyển động bằng sức bắp thịt của con người chèo thuyền.
Theo loại dẫn tiến của tàu người ta chia ra: tàu chân vịt (bộ dẩn tiến là chân vịt); tàu guồng (bộ dẫn tiến là guồng); thuyền bơi chèo (bộ dẩn tiến là bơi chèo); thuyền buồm (bộ dẩn tiến là cánh buồm) và những loại tàu có bộ dẫn tiến đặc biệt khác (kiểu cánh, phụt nước, rôto…).
Theo cách chuyển động trong nước tàu được phân ra là tàu nổi trên mặt nước (tàu chiếm nước); tàu bơi lội dưới nước (tàu ngầm); tàu lướt trên mặt nước, tàu cánh ngầm, tàu gối trên đệm không khí.
Nước ta là một nước có hệ thống sông ngi phong ph, c bờ biển chạy suốt sng ngi chữ S nín tău bỉ trín bờ biển nước ta rất đa dạng, tău lớn tău bĩ với mun mău mun vẻ tấp nập ra văo câc cảng đậu đỏ bến nhập xuất hăng hoâ
Khi tău cập bến th tău c thể va chạm văo bờ thănh hoặc vật cứng năo đó nhau th c thể lăm trầy trc sơn hoặc có thể làm móp méo vỏ tău. Chnh v thế trín con tău người ta luôn có một hệ thống con lươn bao quanh tàu để bảo vệ tău
Phi ban đầu lă thĩp tấm c chiều dăy 5- 6 mm. dập thănh cung trn rồi sau đ hăn quanh tău
Hnh 1.1con lươn bảo vệ tàu thuỷ
1.2Quy trnh cng nghệ
– Chuẩn bị vật tư nguyên liệu
– Khai triển tâm thĩp
– cắt thĩp tấm đê khai triển bằng mây cắt Plasma
– Ep định hnh con lươn
– Hoăn chỉnh
Vật liệu thĩp chế tạo con lươn là các loại thép
+ Thĩp gia cng CT3 c = 24 (kg/mm2), = 36 (kg/mm2)
+ Bề dăy phi thĩp 4 –6 mm, chiều 4 -6 m

Mô tả chung: Gồm các file như ảnh trên bao gồm tất cả các file 3D, xuất bản vẽ ra PDF, CAD+ nguyên lý hoạt động+ Sơ đồ nguyên công, đồ gá + THuyết minh …
Giá: 450.000vnđ – Mã số: doantotnghiep.me_TKM000105
Tải đồ án

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*